Kết quả 1 đến 5 của 5

Chủ đề: KHỞI NGHĨA MAI THÚC LOAN - những vấn đề cần xác minh.

  1. #1
    Administrator
    Ngày tham gia
    Apr 2011
    Đang ở
    Ho Chi Minh City, Vietnam, Vietnam
    Bài viết
    78
    Thanks
    44
    Thanked 47 Times in 38 Posts

    KHỞI NGHĨA MAI THÚC LOAN - những vấn đề cần xác minh.

    Xin giới thiệu bài tham luận của Giáo sư Phan Huy Lê, tại Hội thảo khoa học về cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan do trường Đại học Vinh cùng Viện Sử học Việt Nam tổ chức năm 2010 tại trường Đại học Vinh

    KHỞI NGHĨA MAI THÚC LOAN
    những vấn đề cần xác minh
    GS Phan Huy Lê

    1. Cơ sở dự liệu và những ghi chép khác nhau về khởi nghĩa Mai Thúc Loan
    Bộ sử xưa nhất của ta còn lưu truyền đến nay là Đại Việt sử lược, biên soạn vào khoảng đầu thời Trần, không chép về nhân vật Mai Thúc Loan và cuộc khởi nghĩa của ông.
    Bộ quốc sử đầu tiên chép về ông là Đại Việt sử ký toàn thư, phần Ngoại kỷ do Ngô Sĩ Liên biên soạn, được khắc in năm 1697, chỉ chép một đoạn vắn tắt:
    “Năm Nhâm Tuất [722] (Đường Huyền Tông Long Cơ, Khai Nguyên năm thứ 10), tướng giặc là Mai Thúc Loan chiếm giữ châu, xưng là Hắc Đế, bên ngoài liên kêt với người Lâm Ấp, Chân Lạp, số quân nói là 30 vạn. Vua Đường sai Nội thị Tả giám môn Vệ tướng quân là Dương Tư Húc và Đô hộ là Nguyên Sở Khách đánh dẹp yên được”. Rõ ràng Ngô Sĩ Liên đã tham khảo Đường thư và thiếu tinh thần phê phán đến mức độ gọi Mai Thúc Loan là “tướng giặc”.
    Bộ quốc sử thứ hai là Đại Việt sử ký tiền biên do Ngô Sĩ Liên biên soạn và con là Ngô Thì Nhậm dâng lên vua Tây Sơn Nguyễn Quang Toản và được khắc in năm 1800 như bộ chính sử của vương triều Tây Sơn. Về Mai Thúc Loan, bộ sử này chép: “Năm Nhâm Tuất [722] (Đường Huyền Tông Khai Nguyên năm thứ 10), bấy giờ người Hoan Châu Mai Thúc Loan chiếm cứ Hoan Châu, tự xưng Hắc Đế, bên ngoài liên kết với người Lâm Ấp, Chân Lạp, quân số có tới 30 vạn. Quân nhà Đường sai Nội thị Tả đô hộ là Nguyên Sở Khách dẹp yên được (Thúc Loan người Hương Lãm, huyện Nam Đường, nay có đền thờ ơt thôn Chợ Sa tức là nhà ông. Tư Húc tính tàn nhẫn, bắt được tù binh hoặc lột da mặt, hoặc bóc da đầu, mọi người đều khiếp sợ”.
    Bộ sử chép lời bàn của Ngô Thì Sĩ: “Đương lúc nội thuộc, Mai Hắc Đế ở Nam Đường khởi binh chiếm giữ châu, không chịu sự trói buộc của bọn quan lại bạo ngược, cũng là tay lỗi lạc trong bậc thổ hào. Thành công có Lý Bôn, Triệu Quang Phục; không thành công có Phùng Hưng, Mai Thúc Loan, họ đáng được nêu ra mà biểu dương. Nhưng sử cũ lại chép “tướng giặc” là sai lầm. Cho nên [tôi] sửa lời văn mà chép cho chữ “dân châu”.Ngô Thì Sĩ là nhà sử học có tinh thần phê phán đã đính chính những sai lầm trong sử cũ. Ông là tác giả bộ Việt sử tiêu án, trong đó nêu lên và bình luận những sai lầm kéo dài trong chính sử. Cũng với tinh thần đó, ông là người đầu tiên đã chỉnh sứaai lầm của Ngô Sĩ Liên gọi Mai Thúc Loan là “tướng giặc” và khẳng định vua họ Mai là một thổ hào lỗi lạc.
    Bộ quốc sử thứ ba là Khâm định Việt sử thông giám cương mục biên soạn từ năm 1856 đến 1884 thời Nguyễn, khắc in năm 1884. Về Mai Thúc Loan, bộ sử chép như sau:
    “Năm Nhâm Tuất [722] (Đường Huyền Tông năm thứ 10). Thánh 7, mùa thu, ở Hoan Châu, Mai Thúc Loan giữ lấy châu, tự xưng đế. Nhà Đường sai bọn Nội thị Dương Tư Húc sang đánh, phá được.
    Theo Đường thư, khoảng năm Khai Nguyên (713 – 741), An Nam có Mai Thúc Loan làm phản, tự xưng Hắc Đế, chiêu tập quân 32 châu, ngoài liên kết vớicác nược Lâm Ấp, Chân Lạp và Kim Lân, giữ vùng biển nam, quân số có đến 40 vạn. Tư Húc xin đi đánh, chiêu mộ 10 vạn quân, cùng với Quang Sở Khách tiến quân theo đường cũ của Mã Viện, nhân lúc bất ý sập đến đánh. Thúc Loan hoang mang nao núng, không kịp mưu tính cách đối phó, bị thua to. Tư Húc mới chôn những xác chết chung vào một nơi, đắp thành cái gò cao (kình quán) để ghi chiến công của mình, rồi rút quân về.”
    Bộ quốc sử thời Nguyễn không chỉtham khảo Đường thư và thư tịch Trung Quốc để chú thêm tiểu sử của Dương Tư Húc, Quang Sở Khách, lai lịch các nước Chân Lạp, Kim Lân; đường cũ của Mã Viện mà còn dựa vào tư liệu trong nước để chú về nguồn gốc quê quán của Mai Thúc Loan là “người Mai Phụ, huyện Thiên Lộc, thuộc Hoan Châu bây giờ thuộc huyện Can Lộc, phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Thúc Loan người đen lắm nên người Hoan Châu gọi là Hắc Đế. nay còn vết thành cũ ở núi Vệ thuộc huyện Nam Đường và có đền thờ ở xã Hương lãm thuộc huyện ấy. Đền này được liệt vào hàng đền thờ đế vương các triều đại”.
    Những bộ sử sau đấy như Việt sử cương mục tiết yếu của Đặng Xuân Bản, Việt sử lược của Trần Trọng Kim … hay địa chí như Đại Nam nhất thống chí … đều dựa vào quốc sử để chép vắn tắt về cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan như trên.
    Các sách và giáotrình lịch sử Việt nam cho đến đầu những năm 70 của thế kỷ XX đều chép về cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan trên cơ sở những nguồn tư liệu trên, cho rằng cuộc khởi nghĩa bùng nổ năm 722, làm chủ châu Hoan và sau đó bị quân Đường đàn áp. Cũng có sách cho rằng Mai Thúc Loan đã tiến quân ra bắc chiếm được phủ thành, làm chủ An Nam một thời gian.
    Năm 1964 Trần Bá Chí công bố một số tư liệu khảo sát thực địa vùng Hà Tĩnh, Nghệ An gồm gia phả, thần tích, hát chầu văn chép trong Tiên chân báo huấn tân kinh tại đền thờ Mai Hắc Đế, truyền thuyết gắn liền với lễ hội dân gian … cùng một số di tích vật thể như thành Vạn An, đền thờ Mai Hắc Đế … Khai thác nguồn tư liệu này, một số sách sử làm rõ hơn nguồn gốc, quê hương mai Thúc Loan, nhấn mạnh thành phần xuất thân lao động nghèo khổ, coi chuyên đi phu gánh vải cống là nguyên do trực tiếp khởi đầu cuộc khởi nghĩa, sau chiếm Hoan Châu xây dựng căn cứ Sa Nam, từ đó mở cuộc tiến công làm chủ cả nước, nêu cao quy mô cuộc khởi nghĩa. Năm khởi nghĩa và năm thất bại vẫn coi là năm 720. Nhiều nhà sử học tiếp nhận nguồn tư liệu dân gia này và bổ sung vào công trình nghiên cứu thời Bắc thuộc. Sách giáo khoa phổ thông và đại học đều viết theo nguồn tư liệu bổ sung này.
    Năm 2003 tren báo Thế giới mới đăng tải một số bài của Lê Mạnh Chiến chất vấn và phê phán các nhà sử học, cho việc cống vải làkhông có cơ sở khoa học vì vảivung nam Trung Quốc nổi tiếng, việc vận chuyển quả vải tươi từ nước ta về kinh đô nhà Đường không thể thực hiện được, coi Mai Thúc Loan cùng đoàn phu chuyên chở vải cống bất bình nổi dậy là không đúng về nguyên nhâ khởi nghĩa …
    Năm 1997, Đinh Văn Hiến và Đinh Lê Yên xuất bản sách Mai hắc Đế , truyền thuyết và lịch sử, đã có công thu thập các tư liệu liên quan trong sử sách của ta, trong Tân Đường thư của Trung Quốcvà tư liệu tại các địa phương liên quan, từ đó đặt lại một số vấn đề như năm khởi nghĩa là năm 713 chứ không phải là năm 722, qui mô rất lớn của cuộc khởi nghĩa, quốc đô Vạn An, cuộc kháng chiến chống quân Đường … Cuốn sách đã thu hút được sự quan tâm của một số báo chí và một số người quan tâm đến lịc sử dân tộc, nhưng cũng có người coi đó là một cuốn sách kể chuyện nặng theo truyền thuyết nên chưa chú ý đến đề xuất có tính tính khoa học của tác giả. Năm 2007 tác giả mở trang Web về Mai Hắc Đế và khởi nghĩa Hoan Châu để vận động mở cuộc hội thảo về vấn đề này. Năm 2008 tác giả cũng đã viết thư cho Hộikhoa học lịch sử Việt Nam và đề nghị Hội cùng Tỉnh ủy Nghệ An tổ chức cuộc hội thảo để xác minh và kết luận các vấn đề đã được đặt ra về cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan. Thái độ của Hội Khoa học Lịch sử là luôn luôn khuyến khích, cổ vũ mọi sự tìm tòi, khám phá nhằm làm sáng rõ các vấn đề của lịch sử dân tộc và sẵn sàng phối hợp với các tỉnh, thành phố, các cơ quan khoa học tổ chức những cuộc hội thảo khoa học để góp phần xác minh các vấn đề lịch sử khi đã hội đủ các điều kiện khoa học cần thiết. Vì vậy chúng tôi rất hoan nghênh trường Đại học Vinh cùng Viện Sử học đứng ra tổ chức cuộc hội thảo về khởi nghĩa Hoan Châu hôm nay.
    Cách ghi chép và nhận định về khởi nghĩa Mai Thúc Loan tuy còn nhiều điểm khác nhau, nhưng điều đáng mừng là cơ sở tư liệu càng ngày càng được thu thập phong phú. Tựu trung gồm mấy loại chính sau đây:
    – Tư liệu trong thư tịch cổ của ta gồm cả chính sử, địa chí, văn bia, thần tích … Ngoài những bộ sử cũ đã sử dụng từ lâu, gần đây được khai thác thêm có An Nam chí lược của Lê Tắc, Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên với bài tựa đề năm Khai Hựu thứ nhất (1329) và phần “tục bổ”, “tăng bổ”, “tân đính” về sau, trong đó có truyện “Hương Lãm Mai Đế ký”.
    – Tư liệu khảo sát và thu thập tại Nghệ An, Hà Tĩnh và một số địa phương liên quan gồm di tích đền thờ, thành lũy, thần tích, gia phả, truyền thuyết …
    – Tư liệu thư tịch cổ của Trung Quốc như Cựu Đường thư, Tân Đường thư …
    Trong nghiên cứu sử học, công tác sưu tầm, giám định và xử lý sử liệu giữ vai trò rất quan trọng. Mỗi loại tư liệu có đặc điểm riêng và do đó, giá trị thông tin cũng khác nhau, nhất là khi giữa các loại tư liệu đó có sự khác biệt, mà nhất thiết phải tiến hành phân tích, đối chiếu và rút ra những thông tin có độ tin cậy, có giá trị khoa học trong khi xử lý sử liệu và tiếp cận đối tượng nghiên cứu. Đặc biệt là mối quan hệ giữa truyền thuyết với lịch sử, vừa không đồng nhất truyền thuyết với lịch sử, coi mọi tình tiết của truyền thuyết đều là lịch sử, vừa không loại bỏ truyền thuyết như một nguồn sử liệu mang tính đặc trưng của văn học dân gian cần khai thác theo yêu cầu của phương pháp luận sử học.

    Nguồn

  2. The Following User Says Thank You to mailong For This Useful Post:

     mr Mai (02-23-2012)

  3. #2
    Administrator
    Ngày tham gia
    Apr 2011
    Đang ở
    Ho Chi Minh City, Vietnam, Vietnam
    Bài viết
    78
    Thanks
    44
    Thanked 47 Times in 38 Posts
    2. Các vấn đề cần xác minh

    2.1. Về quê hương và gia đình Mai Thúc Loan
    Từ thế kỷ XIX, sử quán triều Nguyễn đã ghi chú Mai Thúc Loan “người Mai Phụ huyện Thiên Lộc”. Căn cứ vào truyền thuyết, địa danh, lịch sử và thần tích địa phương, Mai Phụ là một địa danh vẫn tồn tại như một đơn vị hành chính cơ sở cho đến thời Nguyễn. Theo Các tổng trấn xã bị lãm thì vào đầu thời Nguyễn, Mai Phụ là một đơn vị hành chính cơ sở thuộc tổng Vĩnh Luật, huyện Thiên Lộc, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An. Trong cải cách hành chính năm 1831 vua Minh Mệnh chia đặt các tỉnh trong đó có tỉnh Hà Tĩnh gồm hai phủ Hà Hoa và Đức Quang. Năm 1853 vua Tự Đức bỏ tỉnh Hà Tĩnh lập đạo Hà Tĩnh gồm các huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh. Năm 1875 vua Tự Đức lập lại tỉnh Hà Tĩnh như cũ, huyện Thiên Lộc năm 1861 đổi là Can Lộc. Trong Đồng Khánh dư địa chí biên soạn thời Đồng Khánh (1866 – 1888), Mai Phụ đổi tên là xã Mai Lâm thuộc tổng Vĩnh Luật, huyện Can Lộc, phủ Đức Thọ, tỉnh Nghệ An. Thời Pháp thuộc, cắt hai tổng Canh Hoạch và Vĩnh Luật của huyện Can Lộc nhập vào huyện Thạch Hà. Từ đó làng Mai Phụ thuộc huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Sau Cải cách ruộng đất, Mai Phụ đổi tên là Mai Thùy, rồi Mai Lâm thuộc xã Thạch Bắc, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh; từ năm 2008 là xã Mai Phụ, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Mai Phụ có thể hiểu theo nghĩa là “Gò Mơ” (tức Gò cây mơ) nhưng cũng có thể hiểu là “Gò họ Mai” như một địa danh chỉ các điểm tụ cư gắn với một dòng họ cư trú lâu đời, hoặcduy nhất hoặc giữ vai trò chi phối như: Mạc Xá, Dương Xá, Đàm Gia Loan … Trong trường hợp hiểu Mai Phụ là Gò họ Mai thì địa danh lịch sử này cho thấy họ Mai Đã định cư lâu đời và là dòng họ lớn của vùng đất này. Theo Thiên Nam ngữ lục, một bản sử ca thế kỷ XVII, nhà mẹ Mai Thúc Loan gần biển, làm nghề muối:
    Nhà gần bể khổ đã thay,
    Mẹ làm hàng muối đêm ngày khổ thân !
    Mai Phụ gần biển và sông Hộ Độ là vùng sản xuất muối lâu đời. Theo truyền thuyết , vì mang thai không chồng nên bà bị ruồng bỏ, phải trốn tránh, lưu lạc lên vùng Ngọc Trừng, huyện Nam Đường, nay thuộc xã Nam Thái, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An sinh sống bằng nghề lao động vất vả như hái củi,làm thuê. Mai Thúc Loan sinh ra trên đất Ngọc Trừng, lên mười tuổi, mẹ mất sớm. “mang thai thần kỳ” vốn là mô típ thường thấy của văn hóa dân gian về nguồn gốc của một số nhân vật lịch sử. Nhưng theo truyện Hương Lãm Mai Đế ký trong Việt điện u linh thìMai Thúc Loan có cha tên là Mai Sinh và mẹ họ Vương, thậm chí có thể coi như đặc trưng lưu truyền với những biến thái mang tính địa phương của loại hình văn học dân gian. Điều cần lưu ý là theo truyền thuyết thì Mai Thúc Loan sống lam lũ với nghề hái củi, chăn trâu, làm thuê nhưng cosức khỏe phi thường và giỏi vật.
    Nhưng theo Việt điện u linh thì sau khi mẹ mất, Mai Thúc Loan được người bạn của cha là Đinh Thế nuôi và gả con gái là Tô Ngọc cho. Nhờ lao động, gia đình trởnên khá giả, “gia sản ngày một nhiều, môn hạ ngày một đông”, và khi chuẩn bị khởi nghĩa “thực khách trong nhà có đến mấy nghìn người”. Việt điện u linh vốn là tác phẩm của Lý Tế Xuyên với bài tựa đề năm Khai Hựu thứ nhất (1329). Nhưng về sau tác phẩm được “tăng bổ”, “hiệu đính”, “tân đính” thêm và truyện Hương Lãm Mai Hắc Đế ký nằm trong bản Tân đính hiệu bình Việt điện u linh do Chư Cát Thị bổ sung với Bài tự dẫn viết năm Giáp Ngọ Cảnh Hưng thứ 35 (1774); Chư Cát Thị hiệu đính và tăng bổ trên cơ sở “để tâm rộng tìm các bậc ẩn dật, rộng nhặt khắp bách gia, đem đối chiếu so sánh, tìm ra phần chủ chốt, phàm những mơ hồ khó kê khảo, nếu viết được thì viết vào, nếu bỏ được thì bỏ đi, cốt sao cho ý tứ lưu loát, đầu đuôi khớp nhau, mạch lạc liên tụcđể thuận tiện cho việc xem, việc nghe vậy”. Như vậy truyện Mai Hắc Đế được bổ sung theo phương thức sưu tầm và có phần chỉnh sửa theo quan niệm của tác giả. Chư Cát Thị bổ sung truyện Mai Hắc Đế vào năm 1774 sau sự kiện lịch sử hơn nghìn năm. Nhưng xét về nguồn gốc tư liệu vẫn là từ truyền thuyết dân gian hay dã sử và có thể có một số tư liệu trong sử sách cổ và qua biên soạn của tác giả, đã được văn bản hóa vào thế kỷ XVIII. Đấy cũng là những thông tin cần tham khảo, nhưng nhất thiết phải đối chiếu với những nguồn tư liệu khác.
    Tôi chưa rõ nguồn gốc tư liệu nào nhưng từ năm 1958 GS Đào Duy Anh đã coi Mai Thúc Loan là một “hào trưởng”. Trong thư tịch cổ Trung Quốc, chép Mai Thúc Loan là “An Nam Man cừ” (Tân Đường thư, Q.207; Tục tư trị thông giám tường biên, Q.279; Tống sứ giám, Q.58; Tống danh thần tấu nghị, Q.62), “An Nam thủ lĩnh” (Cựu Đường thư, Q.184; Sách phủ nguyên qui, Q.667; Quảng Tây thông chí, Q. 90), “An Nam tặc soái” (Cựu Đường thư, Q.8, khảo chứng), “An Nam nhân” (Tân Đường thư, Q.5; Khâm định tục thông chí, Q.6). Các sách đều chép tên ông là Mai Thúc Loan, riêng Cựu Đường thư chép là Mai Huyền Thành hay Mai Nguyên Thành. Trong các danh xưng trên thì đáng lưu ý là “Man cừ”, “thủ lĩnh” cho thấy trong mắt đối phương Mai Thúc Loan là một “tướng giặc” nhưng là người có uy tín, có ảnh hưởng ở An Nam.

    2.2. Nguyên do khởi nghĩa và vấn đề cống quả vải
    Sau khi công bố những truyền thuyết về Mai Thúc Loan phải đi phu chuyển vải cống, đã vận động đoàn phu nổi dậy chống Đường, thì nhiều sách đã bổ sung thêm tình tiết này vào lịch sử. Từ đó người ta nêu lên hai vấn đề:
    – Phải chăng nguyên nhân của khởi nghĩa Mai Thúc Loan chỉ thu hẹp lại trong sự bất bình của đoàn phu cống vải ?
    – Chuyện nộp vải cống có đáng tin hay không khi ở vùng nam Trung Quốc có nhiều loại vải ngon nổi tiếng và ở nước ta, cây vải tập trung ở miền đông bắc đồng bằng và trung du Bắc Bộ, trong đó vải Thiều là giống nhập từ nam Trung Quốc. Còn vùng Hoan Châu (Nghệ An) thì không thể có cây vải ?
    Về nguyên nhân khởi nghĩa, có lẽ không một nhà sử học hay người có hiểu biết về lịch sử lại có thể nghĩ đơn giản rằng cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan chỉ xuất phát từ sự bất bình của đoàn phu cống vải và như thế thì làm sao giải thích được sự tham gia, hưởng ứng rộng rãi của các tầng lớp xã hội thời bấy giờ. Một số nhà sử học đưa thêm truyền thuyết này, trong đó có tác giả nói rõ là theo truyền thuyết, cũng chỉ bổ sung thêm một tình thế và nguyên do trực tiếp mà Mai Thúc Loan đã khai thác để phát động cuộc khởi nghĩa. Vì vậy tác giả nào qui nguyên nhân của cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan chỉ vào sự bất bình phản kháng của đoàn phu cống vải thì dĩ nhiên là một sai lầm về lý luận cũng như thực tế lịch sử. Cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan có cội nguồn sâu xa trong chế độ bóc lột, áp bức của nhà Đường, trong tình hình kinh tế xã hội và những mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân ta với chính quyền đô hộ.
    Còn việc trồng vải thời bấy giờ đã có chưa thì không nên lấy bản đồ thực vật hiện đại để áp đặt vào thời xa xưa, đã cách ngày nay 12 thế kỷ. Theo kết quả khai quật khảo cổ học thì trong một số di tích văn hóa Đông Sơn đã tìm thấy hạt vải cùng hạt trám, hạt na, hạt cau… Như vậy từ thời cổ đại, vào những thế kỷ trước CN Người Việt đã phát triển nghề làm vườn, trồng nhiều loại cây ăn quả, trong đó có cây vải. Đại Việt sử lược có lẽ là bộ sử đầu tiên của nước ta chép tên quả vải (lệ chi) vào năm Kiến Gia thứ 8 đời vua Lý Huệ Tông (1218): “Vua ngự đến Cựu Kinh (Thăng Long) ăn quả vải”. Chính sử cũng ghi chép vào thế kỷ XV đã có địa danh mang tên Lệ Chi viên (vườn vải, nay tại xã Đại Lại, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh), nơi năm 1442 vua Lê Thái Tông từ trần đột ngột và bọn quyền thần đã lựoi dụng dựng lên vụ án thảm khốc tru di cả nhà nGuyễn Trãi, một anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới. Trong lịch sử cổ, từ Dư địa chí của Nguyễn Trãi thế kỷ XV đã nói đến quả vải ở xã Quang Liệt, đạo Sơn Nam, đến Vân Đài loại ngữ của Lê Quý Đôn thế kỷ XVIII đã khẳng định “nước Nam nhiều vải nhất”, nổi tiếng là vùng An Nhân, huyện Đường Hào, Đại Nam nhất thống chí của triều Nguyễn thế kỷ XIX cũng nói đến quả vải như một đặc sản của vùng huyện Đường Hào, Đông Triều … Như vậy cây vải đã có mặt ở nước ta từ lâu đời, ít nhất là từ thời kỳ văn hóa Đông Sơn và đi vào địa danh lịch sử, thư tịch cổ từ thế kỷ XIII, thế kỷ XV. Tất nhiên, bên cạnh cây vải bản địa, chưa rõ thời điểm nào, dân ta còn du nhập thêm giống vải thiều ở miền nam Trung Quốc.
    Trong lịch sử, bản đồ thực vật, do thay đổi khí hậu kết hợp với điều kiện thổ nhưỡng, môi trường, sinh thái và sự thiên di của con người cùng sự di chuyển của loài chim, một số động vật ăn hoa quả, sự phân bố các giống cây thường có sự thay đổi về địa bàn theo hướng lan tỏa hay thu hẹp và có sự chuyển dịch trung tâm. Biết bao dẫn chứng có thể nêu lên như cây ngô, cây khoai tây, cây mít … trong quá khứ và ngày nay thì sự mở rộng hay thay đổi địa bàn phân bố thực vật càng có nhiều chuyển biến do con người chọn và nhập giống cây trồng.
    Ngày nay, tại Nghệ An, Thanh Hóa nhiều vùng vẫn còn loại vải chua hay vải rừng, nhiều nhà vẫn trồng trong vườn như một loại cây ăn quả, chứng tỏ vùng này từ xa xưa đã có cây vải, chưa kể giống vải mới đưa từ bắc vào gần đây. Cho đến nay, dân vùng Nam Đàn xứ Nghệ vẫn còn lưu truyền ba đặc sản quê hương qua câu: “Nhãn lồng, vải tiến, cá rô Bàu Nón” nhưng không rõ vào thời gian nào. Như vậy trên đất nước ta từ thời cổ đại, người Việt đã biết trồng vải và nghề trồng vải phát triển liên tục cho đến ngày nay.
    Trong thư tịch cổ của Trung Quốc cũng ghi nhận, trong thời Bắc thuộc, từ thời Tây Hán, vải và nhãn là những sản phẩm nổi tiếng Giao Chỉ và Cửu Chân. Sách Nam phương thảo mộc trạng do Kế Hàm soạn năm Vĩnh Hưng thứ 1 (322) đời Đông Tấn (317 – 420), cho biết năm Nguyên Đình thứ 6 (111 TCN) Hán Vũ đế sau khi đánh bại Nam Việt, lập cung Phù Lệ đem 100 cây vải từ Giao Chỉ về trồng ở sân, nhưng không cây nào sống. Sau nhiều năm liền đem cây vải về trồng, cuối cùng chỉ có một cây hơi xanh tốt nhưng không có hoa quả. Nhà vua tiếc và bất bình, sai giết người trông nom đến vài chục và từ đó bắt cống nộp hàng năm (tuế cống). Đoạn văn này đã được trích dẫn trong nhiều sách nên tôi chỉ tóm lược như trên. Vấn đề gây tranh cãi là Giao Chỉ ở đây là quận Giao Chỉ miền bắc nước ta hay bộ Giao Chỉ bao gồm cả miền Lĩnh Nam ở nam Trung Quốc. Triệu Đà sau khi đánh chiếm nước Âu Lạc, đã lập 2 quận Giao Chỉ (Bắc Bộ) và Cửu Chân (bắc Trung Bộ). Năm 111 TCN nhà Hán đánh chiếm nước Nam Việt, lập ra các quận Nam Hải, Thương Ngô, Quế Lâm, Hợp Phố, Chu Nhai, Đạm Nhĩ, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam là miền bắc Lâm Ấp (khoảng trung Trung Bộ từ Hoành Sơn đến Quảng Nam) do quân Hán mới chiếm thêm. Năm Nguyên Phong thứ 5 (106 TCN) nhà Hán mới lập Giao Chỉ bộ quản lý cả 9 quận do chức Thứ sử đứng đầu. Như vậy Giao Chỉ do Nam phương thảo mộc trạng chép vào năm Nguyên Đình thứ 6 (111 TCN), là quận Giao Chỉ thuộc miền Bắc nước ta, chứ không phải là bộ Giao Chỉbao gồm cả miền nam Trung Quốc lập sau đó, vào năm Nguyên Phong thứ 5 (106 TCN). Hơn nữa, Nam phương thảo mộc trạng sao đó, còn chép thêm: “Ngụy Văn đế (220 – 226) hạ chiếu cho quần thần rằng, quả phương nam, loại quý lạ là long nhãn, lệ chi lệnh hàng năm nộp cống là xuất từ Giao Chỉ, Cửu Chân”. Cây vải không những có ở Giao Chỉ mà cả ở Cửu Chân tức vùng Thanh, Nghệ, Tĩnh hiện nay, thời đó đã có cây vải và lệ cống vải bao gồm cả vùng này. Cây vải rừng hay vải chua còn trồng ở vùng Thanh Hóa, Nghệ An ngày nay đãcó nguồn gốc lâu đời.
    Chế độ cống nộp là phương thức bóc lột mà chính quyền đô hộ đã thực hiện từ thời thuộc Hán. Cống phẩm bao gồm những loại sản vật quý như ngà voi, sừng tê, châu ngọc, hương liệu … và cả một số sản phẩm nông nghiệp nhiệt đới như cam, quít, nhãn, vải … Các nguồn tư liệu thư tịch đáng tin cậy của Trung Quốc khẳng định chế độ cống nộp các loại quả trên. Còn cách bảo quản và vận chuyển như thế nào lại là vấn đề khác cần nghiên cứu thêm và cần sự hợp tác liên ngành của nhiều ngành khoa học liên quan. Trong lịch sử biết bao vấn đề do sử sách ghi chép hoặc di tích còn tồn tại đến nay mà việc giải thích về kỹ thuật và công việc thực hiện nói chung vẫn là câu hỏi đặt ra cho khoa học, như Kim Tự tháp, Vạn Lý trường thành … trên thế giới và ngay ở nước ta như thành Tây Đô (thành Nhà Hồ, Thanh Hóa) với những khối đá trên dưới 10 tấn, chỉ xây trong 3 tháng năm 1397, tháp Chăm dọc miền trung, kỹ thuậtnung và ghép gạch như thế nào …
    Sau thời thuộc Hán, chế độ phu thuế càng ngày càng phát triển và thu hẹp dần chế độ cống nộp, nhưng cho đến thời thuộc Đường, chế độ cống nộp vẫn còn, kể cả cống quả vải từ vùng Lĩnh Biểu (miền nam Trung Quốc). Theo kết quả tra cứu của tôi thì vào thời thuộc Đường, không tìm thấy một tư liệu đáng tin cậy nào về chế độ cống vải từ Giao Châu hay An Nam, tức từ nước ta. Còn việc cống vải cho Dương Quý Phi xẩy ra sau khởi nghĩa Mai Thúc Loan và là vải của vùng Lĩnh Nam, từ Quảng Châu, Nam Hải của Trung Quốc. Vì vậy câu chuyện Mai Thúc Loan đã từng đi phu cống vải là thuộc phạm trù truyền thuyết dân gian và bài hát chầu văn kể chuyện cống vải, xét về thể loại văn học chỉ mới xuất hiện khoảng một vài thế kỷ gần đây. Câu chuyện dân gian đó chỉ có ý nghĩa phản ánh chế độ lao dịch nặng nề thời bấy giờ. Vì vậy, sau khi Khúc Thừa Dụ giành lại chính quyền tự chủ, con là Khúc Hạo kế vị đã tiến hành cải cách, trong đó có chủ trương “tha bỏ lực dịch” cho nhân dân. Theo tôi, đã đến lúc cần loại bỏ việc cống vải thời thuộc Đường và nhất là ý kiến coi chế độ đi phu cống vải là nguyên nhân của cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan, ra khỏi lịch sử nước ta thời Bắc thuộc.

  4. #3
    Administrator
    Ngày tham gia
    Apr 2011
    Đang ở
    Ho Chi Minh City, Vietnam, Vietnam
    Bài viết
    78
    Thanks
    44
    Thanked 47 Times in 38 Posts
    2.3. Về năm khởi nghĩa
    Chính sử và hầu hết các bộ lịch sử Việt Nam cho đến nay vẫn chép là năm Khai Nguyên thứ 10 (722). Nguyễn Lương Bích và Trần Cương là những nhà khoa học đầu tiên đã nêu và đính chính niên đại này, nhưng chưa chứng minh rõ ràng và do đó, chưa được mấy người quan tâm và ủng hộ. Cần xác nhận Đinh Văn Hiến và Đinh Lê Yên là hai tác giả đã nêu vấn đề này lên trong dư luận như một yêu cầu phải xác minh với việc xuất bản cuốn sách Mai Hắc Đế, truyền thuyết và lịch sử cùng nhiều bài báo đăng tải trên báo chí. Tôi có theo dõi thông tin này nhưng chưa có dịp kiểm tra lại các tư liệu liên quan và đến hội thảo này mới bày tỏ thái độ sau khi đã xem xét, giám định lại các tư liệu.
    Trước hết, xem lại ghi chép trong chính sử của ta từ Đại Việt sử ký toàn thư đến Khâm định Việt sử thông giám cương mục đều dựa theo thư tịch Trung Quốc, chủ yếu là Đường thư. Điều đó cũng dễ hiểu vì mãi đến thời Lý, Trần nước ta mới có những bộ sử đầu tiên mà nay đều thất truyền, duy bộ Đại Việt sử lược cũng tìm thấy ở Trung Quốc và đến đời Thanh mới đưa vào Tứ khố toàn thư với tên sách là Việt sử lược. Nhưng còn hai tác phẩm tác giả người Việt viết mà trước đây ít người khai thác về khởi nghĩa Mai Thúc Loan là An Nam chí lược và Việt điện u linh.
    An Nam chí lược do Lê Tắc (có âm là Trắc) biên soạn trong thời gian sống lưu vong trên đất Nguyên. Theo giám định của Trần Kinh Hòa, Lê Tắc biên soạn trong khoảng 1285 – 1307, sau đó bổ sung cho đến 1339 mới xong. Bộ sử này có nhiều truyền bản và đời Thanh đã được đưa vào Tứ khố toàn thư, trong phần “Sử hộ, tải ký loại”. Trong quyển 9 viết về các quan đô hộ, kinh lược An nam thời Đường, có đoạn chép về “Nguyên Sở Khách” như sau: “Người Giang Lăng, năm đầu niên hiệu Khai Nguyên đổi làm An Nam đô hộ, cùng Dương Tư Húc dẹp yên cuộc nổi loạn của người Man là Mai Thúc Loan”. Nguyên Sở Khách là Quang Sở khách được chép thống nhất trong Đường thư cũng như chính sử của ta, có thể vì tự dạng gần giống nhau nên chép nhầm.
    Hương Lãm Mai Đế ký trong Tân đính hiệu bình Việt điện u linh cũng chép: Mai Thúc Loan khởi nghĩa, chiếm châu huyện và xưng đế vào “năm Quý Sửu mùa hạ, tháng tư, vào thời Đường Huyền Tông, niên hiệu Khai Nguyên thứ nhất vậy”. Đây là chuyện bổ sung của Chư Cát Thị vào năm Cảnh Hưng thứ 35 (1774).
    Như vậy là hai tác giả người Việt; Lê Tắc vào đầu thế kỷ XIV và Chư Cát Thị vào giữa thế kỷ XVIII, đã đưa ra một niên đại thống nhất cho cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan vào năm Khai Nguyên thứ nhất. An Nam chí lược ghi là “Khai Nguyên sơ” và Việt điện u linh ghi rõ cả niên hiệu là năm Khai Nguyên thứ nhất và cả năm theo can chi là năm Quý Sửu (713). Vua Đường Minh Hoàng (712 – 756), có 3 niên hiệu đầu tiên là Tiên Thiên (712 – 713), niên hiệu thứ hai là Khai Nguyên (713 – 742) và niên hiệu thứ ba là Thiên Bảo (742 – 756). Khai Nguyên năm đầu là năm 713.
    Trong thư tịch Trung Quốc thì Tân Đường thư và Cựu Đường thư, phần bản kỷ, đều chép cuộc khởi nghĩavào năm Khai Nguyên thứ 10 (722).
    Cựu Đường thư do Lưu Hướng (có âm là Húc) biên soạn vào đời Hậu Tấn (936 – 947). Phần bản kỷ chép: “[Khai Nguyên] năm thứ 10, tháng 8, Án sát Lĩnh Nam là Bùi Trục Tiên tâu, tướng giặc An Nam là bọn Mai Thúc Loan vây đánh châu huyện. Sai Phiêu kỵ tướng quân kiêm Nội thị Dương tư Húc đánh dẹp”.
    Tân Đường thư do Âu Dương Tu và Tống Kỳ biên soạn vào đời Tống (960 – 1279). Phần bản kỷ chép: “[Khai Nguyên] năm thứ 10, tháng 7, người An nam là Mai Thúc Loan làm phản, bị giết”.
    Trước đây, các tác giả Việt Nam chỉ tham khảo phần bản kỷ của Đường thư nên đều chép cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan bùng nổ năm Khai Nguyên thứ 10 (722). Nhưng nếu tra cứu kỹ thì Cựu Đường thư; phần liệt truyện, mục Hoạn quan có truyện Dương Tư Húc lại chép: “Dương Tư Húc vốn họ Tô người Thạch Thành thuộc La Châu, làm nội quan (hoạn quan), được họ Dương nuôi rồi thiến làm việc ở Nội thị tỉnh … Tư Húc có sức khỏe, tàn bạo, hiếu sát, theo Lâm Truy vương giết họ Vi, rồi theo vua làm vũ sĩ nanh vuốt, đổi làm Hữu giám môn Vệ tướng quân. Khai Nguyên năm đầu, thủ lĩnh An Nam Mai Huyền Thành làm phản tự xưng Hắc Đế, cùng nước Lâm Ấp, Chân Lạp thông mưu hãm An Nam phủ. Sai Tư Húc đem binh đánh dẹp. Tư Húc đến Lĩnh Biểu, chiêu mộ con của các thủ lĩnh được binh mã hơn 10 vạn, theo đường cũ của Phục Ba mà tiến đánh xuất kỳ bất ý. Huyền Thành nghe tin sợ hãi, không kịp đề ra mưu kế, nên bị quan quân bắt, chém tại trận, giết hết bọn chúng, chất thây làm kình quán rồi rút về”.
    Tân Đường thư, phần liệt truyện, truyện Dương Tư Húc cũng chép tương tự: “Dương Tư Húc người Thạch Thành thuộc la Châu, vốn họ Tô, theo họ cha nuôi. Lúc trẻ làm ở Nội thị tỉnh, theo Huyền Tông đánh dẹp nội loạn, được phong Tả giám môn Vệ tướng quân, vua coi là vũ sĩ nanh vuốt. Khai Nguyên năm đầu, thủ lĩnh người Man ở An Nam (An nam man cừ) là Mai Thúc Loan làm phản, xưng Hắc Đế, dấy dânchúng 32 châu, bên ngoài liên kết với các nước Lâm Ấp, Chân Lạp, Kim Lân chiếm giữ vùng Hải Nam, quân chúng có 40 vạn. Tư Húc xin cho chiêu mộ con em các thủ lĩnh được 10 vạn cùng An nam đại đohộ Quang Sở Khách theo đường cũ của Mã Viện, bất ngờ đánh, giặc sợ hãi, không kịp mưu tính, bị thua to, chất thây làm kình quán rồi rút quân về”.
    Phân tích các tư liệu trên có thể hiểu cuộc khởi nghĩabùng nổ năm Khai Nguyên đầu, nhưng đến năm Khai Nguyên thứ 10 (722), quân Đường mới tổ chức phản công chiếm lại An nam. Do đó, trong phần bản kỷchép theo biên niên, sử nhà Đường chép theo niên đại của sự kiện phản công và chép cuộc khởi nghĩa vào cùng năm đó như nguyên nhân của cuọc chinh phạt. Hai sự kiện khởi nghĩa Mai Thúc Loan và phản công của nhà Đường, chép chung vào một đoạnvà xếp vào niên đại của cuộc phản công. Trong Cựu Đường thư và Tân Đường thư, năm Khai Nguyên đầu, phần bản kỷ, không chép cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan mà chép năm Khai Nguyên thứ 10 khi nhà Đường phái quân sang đàn áp. Rõ ràng trong năm Khai Nguyên thứ 10 (722), không thẻvừa nghe báo có cuộc làm phản của Mai Thúc Loan mà lập tức sai tướng sang đàn áp, vừa điều binh, chuẩn bị lương thảo, dừng lạiở Lĩnh Biểu để chiêu mộ các con em các thủ lĩnh, vừa tiến công đánh bại đối phương ở An Nam phủ, tất cả chỉ diễn ra từ khi khởi nghĩa bùng nổ vào tháng 7 hay tháng 8 đến hết năm đó nghĩa là trong vòng 4 – 5 tháng. Nhưng trong truyện Dương Tư Húc là tướng chỉ huy cuộc phản công thì hai sự kiện – khởi nghĩa và đàn áp, mới được táchra với hai niên đại khác nhau. Nhận định này càng được minh chứng thêm bằng một số tư liệu khác trong thư tịch cổ của Trung Quốc.
    Sách phủ nguyên quy là bộ sách lớn biên soạn từ năm Tống Chân Tông năm Cảnh Đức thứ 2 (1005) cho đến năm Đại Trung Tường Phủ thứ 6 (1013), trong 8 năm mới xong. Bộ sách gồm1.000 quyển cùng với bộ Thái Bình ngự lãm, Thái Bình quảng ký, Van uyển anh hoa, được coi là “Tống đại tứ đại bộ thư” (bộ sách lớn đời Tống). Đoạn chép về Dương Tư Húc như sau: “Thời Đường Huyền Tông, Dương Tư Húc làm Hữu giám môn Vệ tướng quân, Khai Nguyên năm đầu, thủ lĩnh An Nam là Mai Huyền Thành làm phản, tự xưng Hắc Đế cùng nước Lâm Ấp, Chân lạp thông mưu hãm An nam phủ …”.
    Quảng Tây thông chí do Hoàng Tá soạn và Lâm Phú tu sửa vào năm Gia Tĩnh (1522 – 1567) đời Minh (1368 – 1644), gồm 128 quyển. Bản in Quảng Tây thông chí trong Tứ khố toàn thư chép truyện Dương Tư Húc gần như trong Tân Đường thư: “Dương Tư Húc người Thạch thành thuộc la Châu, vốn họ Tô, được nội quan họ Dương nuôi để thiến làm Cấp sự nội thị tỉnh, tham dự việc giết họ Vi có công, đổi làm Hữu giám môn Vệ tướng quân, Khai Nguyên năm đầu, thủ lĩnh An Nam mai Thúc Loan làm phản, xưng hiệu Hắc Đế …”.
    Lê Tác khi soạn An Nam chí lược chắc dựa trên tư liệu thư tịch Trung Quốc. Còn Hương Lãm Hắc Đế ký của Chư Cát Thị dựa vào các tư liệu trong nước, trong đó có truyền thuyết và những tư liệu từ “các bậc ẩn dật”, “bách gia” mà không ghi xuất xứ. Từ phân tích sửliệu của ta và Trung Quốc, có thể rút ra nhận định cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan bùng nổ năm Khai Nguyên đầu, chứ không phải năm Khai Nguyên thứ 10 (722) như đã ghi chép phổ biến trước đây.
    Chỉ còn một tiểu tiết về thời gian cần xác định rõ. Cách ghi chép niên đại trong sử cũ thường dùng niên hiệu, có khi kết hợp cả năm can chi. Hầu hết thư tịch của Trung Quốc đều chép “Khai Nguyên sơ”. Chữ “sơ” theo Tứ hải có 4 nghĩa: (1) khởi đầu, lần thứ nhất, (2) ban đầu, đương sơ, (3) thấp nhất như sơ cấp, (4) chỉ ngày đầu của tháng hay khởi đầu của 10 ngày (10 ngày là một tuần) như sơ nguyệt, sơ thập … Trong sử biên niên, khi mở đầu một năm theo niên hiệu, ví dụ niên hiệu Khai Nguyên năm thứ nhất thường viết là: “Khai Nguyên nguyên niên” rồi năm thứ hai là “Khai Nguyên nhị niên” … Nhưng trong một đoạn văn khi viêt “Khai Nguyên sơ” có nghĩa là đầu niên hiệu Khai Nguyên tức là năm Khai Nguyên thứ nhất. Cũng có người hiểu “Khai Nguyên sơ” là những năm đầu của niên hiệu Khai Nguyên (713 – 744). Nhưng Hương Lãm Hắc đế ký của Việt điện u linh viết rõ Khai Nguyên năm thứ nhất kèm theo năm can chi là năm Quý Sửu (713). Như vậy có thể xác đinh niên hiệu “Khai Nguyên sơ” là năm Khai Nguyên thứ nhất, ứng với năm can chi là năm Quý Sửu (713). Do đó sự phù hợp, thống nhất giữa niên hiệuvà năm can chi.

    2.4. Qui mô và sự thành bại của cuộc khởi nghĩa
    Sự ghi chép của nhiều tác phẩm trước đây cho rằng cuộc khởi nghĩa bùng nổ và thất bại trong năm 722 và gần như chỉ giới hạn trong vùng Hoan Châu. Nhưng nhiều tư liệu cho thấy qui mô to lớn của cuộc khởi nghĩa. Theo chính sử nhà Đường, Mai Thúc Loan “làm loạn”, “vây đánh châu huyện” (Cựu Đường thư, Q.8), “tự xưng Hắc Đế” (Cựu Đường thư, Q.184), “đặt hiệu Hắc Đế” (Tân Đường thư, Q.207); “dấy dân chúng 32 châu” (Tân Đường thư,Q.207), “bên ngoàiliên kết với các nước Lâm Ấp, Chân lạp, Kim Lân, chiếm giữ vùng Hải Nam (vùng biển nam ?), quân chúng 40 vạn” (Tân Đường thư, Q.207), “mưu hãm An nam phủ” (Cựu Đường thư, Q.184; Sách phủ nguyên qui, Q.667).
    Nước ta thời thuộc Đường, năm Vũ Đức thứ 5 (630) đặt Goa Châu tổng quản phủ cai quản 10 châu là: Giao, Phong, Ái, Tiên, Diên, Tống, Từ, Hiểm, Đạo, Long. Năm Điều Lộ thứ 1 (679) đổi Giao Châu đô đốc phủ làm An Nam đô hộ phủ. Các đơn vị hành chính của An nam qua nhiều lần thay đổi, nhưng vào khoảng khởi nghĩa Mai Thúc Loan, chia làm 12 châu: Giao, Lục, Phong, Ái, Hoan, Diễn, Trường, Phúc Lộc, Thang, Chí, Vũ Nga, Vũ An. Ngoài ra phía nam Hoành Sơn, nhà Đường còn đặt châu Lâm, Ảnh và rất nhiều châu ki mi ở miền núi, đến trên dưới 40 châu. Riêng Hoan Châu, năm Vũ Đức thứ 5 (630) đặt Nam Đức châu tổng quản phủ cai quản 8 châu: Đức, Minh, Trí, Hoan, Lâm, Nguyên, Cảnh, hải. Châu Nam Đức quản 6 huyện. Năm Vũ Đức thứ 8 (633) đổi làm Đức Châu. Năm Trinh Quán thứ 1 (649) đổi làm Hoan Châu, lấy Hoan Châu cũ làm Diễn Châu. Năm thứ 2 (650) đặt Hoan Châu đô đốc phủ, lãnh 8 châu: Hoan, Diễn, Minh, Trí, Lâm, Nguyên, Cảnh, hải. Năm thứ 12 (660), bỏ 3 châu: Minh, Nguyên, hải. Đó là các đơn vị hành chính của Hoan Châu trước khởi nghĩa Mai Thúc Loan. Hoan Châu là một châu gồm 4 huyện (Cửu Đức, Phố Dương, Việt Thường, và Hoài Hoan) thuộc nam Đức châu tổng quản phủ rồi đổi thành Hoan Châu đô đốc phủ gồm 8 châu. Vì vậy rất khó xác định 32 châu mà Mai Thúc Loan đã dấy quân, nhưng chắc chắn đó là vùng rộng lớn vượt ra ngoài phạm vi Hoan Châu (vùng Nghệ Tĩnh), có thể bao quát gần như cả nước, nhất là vùng đồng bằng và trung du, bao gồm cả một số châu ki mi ở miền núi.
    Lâm Ấp là vương quốc đã từng bị nhà Hán đô hộ và giành lại độc lập vào khoảng cuối thế kỷ II sau cuộc khởi nghĩa do Khu Liên cầm đầu ở huyện Tượng Lâm (vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định) thuộc quận Nhật Nam (vùng đất từ Hoành Sơn đến Cù Mông). Sau đó Lâm Ấp đã mở rộng lãnh thổ ra phía bắc đến Hoàng Sơn. Tại vùng biên giới phía bắc Lâm Ấp giáp Giao Châu đời Tùy, An Nam thời Đường đã diễn ra nhiều cuộc tranh chấp ác liệt. Năm 446 Thứ sử Giao Châu là Đàn Hòa Chi tiến công vào quốc đô Lâm Ấp, cướp nhiều của cải châu báu. Năm 605 tướng Lưu Phương nhà Tùy sau khi đánh bại nước vạn Xuân của người Việt, tiến công vào quốc đô Lâm Ấp, chiếm một phần đất phía bắc, lập ra 3 châu: Đăng Châu, Nông Châu, Xung Châu, sau đổi thành 3 quận: Tỷ Cảnh, Hải Âm, Lâm Ấp. Nhưng rồi Lâm Ấp chiếm lại vùng này và vào thời Mai Thúc Loan khởi nghĩa, Hoành Sơn là biên giới phía bắc. Như thế Hoan Châu phía nam giáp với Lâm Ấp và trong bối cảnh mâu thuẫn giữa nhà Đường – Lâm Ấp thì Mai Thúc Loan liên kết với nước này trong cuộc đấu tranh chống Đường là điều có thể xẩy ra.
    Chân Lạp vốn là một thuộc quốc của đế chế Phù Nam, từ thế kỷ VI – VII trở nên cường thịnh đã đánh bại Phù Nam, phát triển thành một quốc gia độc lập. Từ đầu thế kỷ VIII, Chân Lạp phân chia thành 2 vùng: Thủy Chân Lạp ở phía nam là vùng đất thấp, nhiều đầm lầy, giáp biển và Lục Chân Lạp ở phía bắc là đồi núi, thung lũng, đồng bằng. Vùng Lục Chân Lạp bao gồm cả miền hạ Lào hiện nay và có phân biên giới giáp Hoan Châu. Quan hệ giữa Mai Thúc Loan với Chân lạp qua vùng biên giới phía tây Hoan Châu là có khả năng.
    Tân Đường thưcòn kể thêm nước Kim Lân. Theo Lương thư, Kim Lân là một nước mà vua Phạm mạn sau khi chinh phục “các xứ Đô Côn, Cửu Trị, Điển Tôn cả thảy hơn 10 nước”, đã tiến đánh Kim Lân thì bị bệnh. Khâm định Việt sử thông giám cương mục, trong chú thích về nước Kim Lân dựa vào Thái Bình ngữ lãm và ngoại quốc truyện, cho rằng ở phía tây Phù Nam hơn 2.000 dặm. Kim Lân có nghĩa là “xứ vàng”. Chữ Phạn là Suvarnabhumi vốn là tên người Ấn Độ chỉ chung vùng Đông Nam Á nổi tiếng có nhiều vàng và hương liệu quý. Kim Lân trong thư tịch Trung Quốc là một nước của người Môn cổ ở Myanmar, đúng là ở phía tây Phù Nam, nhưng cũng chưa xác định đó có phải là xứ Kim Lân mà vua Phù Nam tiến đánh hay không. Cho đến nay, chưa rõ vào đầu thé kỷ VIII, Kim Lân là một nước hay chỉ chung vùng Đông nam Á ?. Có lẽ vì thế, ngoài Tân Đường thư, Quảng Tây thông chí, hầu hết các tư liệu thư tịch cổ của Trung Quốc, kể cả Cựu Đường thư, không nói đến nước Kim Lân.
    Qua xác định các châu huyện của An Nam và các nước mà Mai Thúc Loan liên kết, có thể hình dung qui mô rất lớn của cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan. Ông nổi dậy ở Hoan Châu rồi nhanh chóng phát triển ra hầu khắp cả nước, đã “hãm An Nam phủ” (Cựu Đường thư, Sách phủ nguyên quy) tức đã tiến công phủ thành An Nam lúc đó là thành Tống Bình (Hà Nội). Đô hộ Quang Sở Khách phải bỏ thành chạy trốn. Tất cả các nguồn tư liệu của ta và Trung Quốc đều xác nhận, Mai Thúc Loan xưng đế hiệu Mai Hắc Đế. Các tư liệu của ta ghi nhận thêm, ông xây dựng thành Vạn An làm quốc đô. Như thế là cuộc khởi nghĩa đã toàn thắng, giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của nhà Đường và xây dựng chính quyền độc lập. Riêng việc xưng đế đã cho thấy ý thức quốc gia rất mạnh mẽ của Hoàng đế họ Mai. Trong lịch sử Việt Nam, người đầu tiên xưng đế là Lý Bí với đế hiệu Lý Nam Đế và quốc hiệu Vạn Xuân. Mai Thúc Loan là người thứ hai xưng đế sau khi thoát khỏi thời Bắc thuộc, trải qua chính quyền tự chủ họ Khúc, họ Dương vẫn giữ chức Tiết độ sứ, Ngô Quyền tiến lên xưng vương năm 939, đến Đinh BBồ Lĩnh năm 968 mới tiếp tục xưng đế mở đầu thời kỳ xưng đế liên tục của các hoàng đế nước Nam, biểu thị ý thức độc lập của quốc gia – dân tộc Đại Việt – Việt nam – Đại nam thời chế độ quân chủ.
    Nhưng về phương diện khoa họccần đặt ra vấn đề là Mai Thúc Loan đã chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa như thế nào, xây dựng lực lượng ra sao cùng diễn biến của cuộc khởi nghĩa. Dĩ nhiên để đạt được qui mô khởi nghĩa to lớn như vậy, Mai Thúc Loan và những người khởi xướng phải dày công chuẩn bị, phải có sự vận động, liên kết lực lượng, phải có tài năng tổ chức và lãnh đạo. Nhưng về tư liệu thì gần như chỉ có một số truyền thuyết và truyện Hương Lãm Hắc Đế ký trong Việt điện u linh. Truyện này cho biết Mai Thúc Loan đã bàn với vợ “Nay ta có chí bình định thiên hạ, đi khắp hải nội để giao kết với hào kiệt bốn phương, cùng lập sự nghiệp” và đã “phóng tầm giang hồ, đi tìm những kẻ dật sĩ”. Sau đó, tác giả là Chư Cát Thị dẫn ra tên tuổi một số nhân vật đã gặp gỡ và tham gia công việc chuẩn bị khởi nghĩa. Câu chuyện mang tính truyền thuyết, nó ảnh xạ một phương diện lịch sử là công việc liên kết hào kiệt, chuẩn bị cuộc nổi dậy qui mô lớn. Nhưng truyền thuyết phản ánh lịch sử, chứ không phải là lịch sử. Vì vậy từ truyền thuyết để phân tích và xác minh những vấn đề lịch sử là rất phức tạp, cần có sự xác nhận thêm của cứ liệu khoa hoc. Tôi được biết Đinh Văn Hiến và Đinh Lê Yên cùng một số nhà nghiên cứu quan tâm đến sự kiện này đang ra sức đi điều tra, khảo sát các địa phương liên quan đến cuộc khởi nghĩa để sưu tầm và xác minh tư liệu. Tôi lấy một ví dụ. Khi nghiên cứu cuộc khởi nghĩa Phùng Hưng, phát hiện tấm bia ở đình Quảng Bá (Tây Hồ, Hà Nội) cho biết cha Phùng Hưng là Phùng Hạp Khanh đã từng tham gia cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan. Văn bia khắc lại bản thần tích của làng và dựng năm 1841. Tuy chỉ dạng thần tích nhưng cũng cung cấp thông tin cho thấy một số hào trưởng kiểu thủ lĩnh địa phương vùng tây An nam phủ như Phùng Hạp Khanh đã tham gia cuộc khởi nghĩa. Rồi việc liên kết với Lâm Ấp, Chân lạp thực hiện như thế nào, chỉ là sự hưởng ứng hay có sự tham chiến.
    Tuy nhiên, sử Trun Quốc chép quân số khởi nghĩa lên đến 40 vạn quân thì cũng phải kiểm tra độ chính xác. Về phương diện này, Lời cẩn án của Khâm định Việt sử thông giám cương mục tỏ ý hoài nghi số quân của vua họ Mai đáng được quan tâm: “Khoảng năm Khai Nguyên (713 – 741) nhà Đường, An Nam đô hộ phủ vẫn còn ở Giao Châu, thống trị 12 châu, 59 huyện, đều đặt các quan thú tể để quản trị, việc đánh tô, dung, diệu và bắt lính đều tuân theo lệnh nhà Đường; lúc Mai Thúc Loan khởi lên, thì phủ đô hộ vớicác châu Phong, Ái, Lục, Diễn, chưa nghe thấy có đâu là thuộc về Mai Thúc Loan đóng giữ; như vậy Mai Thúc Loan làm thế nào mà chiêu tập được người 32 châu, có số quân đến 40 vạn ?. Trộm nghĩ Thúc Loan chẳng qua giữ được một châu, thế lực cũng nhỏ. Bấy giờ Đường Huyền Tông thích lập công ở biên giới , bọn Tư Húc và Sở Khách thì lợi dụng xứ này ở nơi hiểm trở xa xôi, nên mới thổi phồng thanh thế bên địch để cầu lấy công cán và phong thưởng đó thôi. Nếu không phải thế thì sao giáp binh và đất đai như thế, mà quân nhà Đường mới thoạt kéo đến đã vội kinh hãi tan rã ngay ?. Sử cũ cũng chép Thúc Loan ngoài liên kết với các nước Lâm Ấp, Chân Lạp, số quân có 30vạn có lẽ cũng cứdựa vào Đường thư, chứ chưa đến sự thật.”.
    Cần lưu ý, trong cuộc khởi nghĩa dân tộc thì số quân khởi nghĩa buổi đầu chủ yếu là quần chúng tự vũ trang nổi dậy đấu tranh, chứ chưa phải là quân đội được tổ chức và phiên chế chặt chẽ. Vì vậy hàng chục vạn quân chúng chép trong sử nhà Đường chỉ là con số phỏng chừng và không loại bỏ ý đồ khuếch đại để phô trương chiến công đàn áp như Lời cẩn án của bộ quốc sử triều NGuyễn, nhưng điều quan trọng cần hiểu đấy là lực lượng nổi dậycủa dân chúng.
    Năm 713 Mai Thúc Loan khởi nghĩa, trước hết chiếm giữ Hoan Châu làm căn cứ, mở rộng thế lực ra các châu huyện, rồi tiến công chiếm An Nam phủ thành. Từ đó cho đến lúc thất bại năm 722, trong thời gian gần 10 năm, nhà nước Vạn Anđã cai quản đất nước như thế nào, xây dựng bộ máy chính quyền và thực thi các chính sách gì ?. Đấy cũng là một vấn đề quan trọng mà cho đến nay, chưa có tư liệuđể đưa ra trả lời có sức thuyết phục.
    Năm 722nhà Đường mới điều quân sang đàn áp. Một câu hỏi cần đặt ra là tại sao nhà Đường phản ứng chậm như vậy. Sau khi Đường Thái Tông mất năm 649, triều đình nhà Đường lâm vào tình trạng rối loạn bởi sự chuyên quyền của Thái hậu Võ Tắc Thiên cho đến năm 690, rồi lại thời xưng đế, đổi thành nhà Chu của Võ Tắc Thiên cho đến thoái vị năm 705. Nhà Đường được khôi phúc, nhưng cho đến năm 713 xung đột và mâu thuẫn cung đình vẫn tiếp tục với 3 vua bị phế truất là Trung Tông (705 – 707), Thiếu đế (710) và Duệ Tông (710 – 712). Đường Huyền Tông (712 – 756) lên nối ngôi, chắc chắn trong những năm đầu phải tập trung giải quyết những hậu quả nặng nề của hơn nửa thế kỷ khủng hoảng cung đình, lo dẹp nội loạn, chỉnh đốn bộ máy nhà nước và ổn định tình hình chính trị, xã hội. Có thể đó là lý do cắt nghĩa việc điều quân chậm của nhà Đường. Nam Khai Nguyên thứ 10 (722), Dương Tư Húc là nội quan (hoạn quan) và là một tướng rất tàn bạo, đã từng lập công trong các cuộc giành quyền lực, vua Đường coi như nanh vuốt, được cử làm Tả (Hữu?) giám môn Vệ tướng quân điều quân cùng với An Nam đại đô hộ Quang Sở khách đánh chiếm lại An Nam. Dương Tư Húc còn chiêu mộ thêm con em các thủ lĩnh vùng Lĩnh Biểu tức vùng nam Trung Quốc gần An Nam, được hơn 10 vạn binh mã. Tân Đường thư và Cựu Đường thư miêu tả cuộc tiến quân quá đơn giản và rất vắn tắt: theo đường cũ của Mã Viện tức đường ven biển vùng Quảng Ninh, rồi bất ngờ tiến công khiến quân vua Mai không kịp đối phóvà bị thất bại. Hắn sai thu nhặt và chôn xác chết thành gò đống gọi là Kình quán để ghi chiến công rồi rút quân về nước. Căn cứ vào đường hành quân thì nơi quân Đường tiến công là phủ thành An Nam tức là thành Tống Bình (Hà Nội). Cuộc tấn công của quân Đường giường như chỉ có một trận đánh. Nhưng theo các theo các truyền thuyết thì vua Mai sau thất bại ở phủ thành An Nam, rút quân về Hoan Châu và cuộc kháng chiến tiếp tục với những trận đánh ác liệt quanh thành Vạn An. Đây cũng là một vấn đề cần xác minh trên cơ sở tìm kiếm thêm các cứ liệu khoa học.

  5. #4
    Administrator
    Ngày tham gia
    Apr 2011
    Đang ở
    Ho Chi Minh City, Vietnam, Vietnam
    Bài viết
    78
    Thanks
    44
    Thanked 47 Times in 38 Posts
    3. Vài nhận xét
    3.1. Trên cơ sở tập hợp và phân tích các nguông tư liệu hiện có, có thể nhận định:
    – Khởi nghĩa Mai Thúc Loan bùng nổ năm Khai Nguyên thứ 1 tức là năm 713, chứ không phải năm Khai Nguyên thứ 10 (722) như sách cũ của ta chép và nhiều công trình lịch sử đã viết theo..
    – Cuộc khởi nghĩa có qui mô lớn, từ Hoan Châu đã mở rộng ra gần như cả nước và đã giành thắng lợi, chiếm phủ thành An Nam, giải phóng đất nước.
    – Trên cơ sở thắng lợi đó, Mai Thúc Loan đã xưng đế tức vua Mai hắc Đế, xây thành Van An làm quốc đô.
    – Nhà nước độc lập tồn tại được gần 10 năm từ 713 đến năm 722.
    – Đại Đường là một đế chế lớn mạnh bậc nhất ở phương Đông thế kỷ VIII, nhất là thời Đường Thái Tông (626 – 649) và Đường Huyền Tông (712 – 756). Mai Thúc Loan đã khởi nghĩa thành công, giải phóng cả nước và duy trì nhà nước độc lập với danh hiệu hoàng đế gần 10 năm ngay trong thời cường thịnh của nhà Đường. Cũng cần lưu ý trong buổi đầu thời Đường Huyền Tông còn phải lo khắc phục hậu quả những năm xung đột cung đình sau thời Đường Thái Tông đã tạo cơ hội cho cuộc khởi nghĩa bùng nổ và thắng lợi. Trước đế chế Đại Đường thời thịnh đạt, thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan là một thành công rất lớn, cần được nhìn nhận và tôn vinh một cách xứng đáng.
    3.2. Tuy nhiên, các tư liệu ngoài thư tịch, phần lớn là truyền thuyết, thần tích, thần phả, chưa hội đủ thông tin khoa học để làm sáng rõ nhiều vấn đề như công việc chuẩn bị khởi nghĩa của Mai Thúc Loan, diễn biến của cuộc khởi nghĩa thắng lợi cũng như cuộc kháng chiến thất bại cùng hoạt động của chính quyền vua Mai. Do đó, cần tiếp tục công việc phát hiện và thu thập tư liệu, nhất là trên những địa bàn liên quan đến các hoạt động của Mai Hắc Đế để góp phần giải quyết những vấn đề khoa học đang tồn tại.

  6. #5
    www.anhphuoc.com.vn
    Ngày tham gia
    May 2012
    Đang ở
    Q4
    Bài viết
    3
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts
    hay rất có ý nghĩa. cám ơn bạn rất nhiều
    Tập học sinh Vĩnh Thịnh
    Văn Phòng Phẩm Anh Phước

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •